Simple CSS Bài 1: Giới Thiệu

1.1.  CSS là gì?

Trong lĩnh vực xây dựng, chúng ta có trang trí nội thất; trong lĩnh vực thẩm mỹ – làm đẹp, chúng ta có kỹ thuật make-up; còn trong lĩnh vực thiết kế web chúng ta có CSS. CSS ( là từ viết tắt của Cascading Style Sheet, có thể tạm dịch là bản kiểu mẫu song song)  là một ngôn ngữ quy định cách  trình bày cho các  tài  liệu viết bằng HTML, XHTML, XML, SVG, hay UML,…

1.2.  Tại sao CSS?

Nếu bạn đã  từng học qua HTML thì cũng biết HTML cũng hỗ trợ một  số thuộc  tính định dạng cơ bản cho text, picture, table, … nhưng nó không  thật sự phong phú và chính xác như nhau trên mọi hệ thống. CSS cung cấp cho bạn hàng trăm thuộc tính trình bày dành cho các đối tượng với sự sáng tạo cao trong kết hợp các thuộc tính giúp mang lại hiệu quả. Ngoài ra, hiện tại CSS đã được hỗ trợ bởi tất cả các trình duyệt, nên bạn hoàn toàn có thể tự tin trang web của mình có thể hiển thị hầu như “như nhau” dù  trên một hệ  thống  sử dụng Windows, Linux hay trên một máy Mac miễn là bạn đang sử dụng một phiên bản trình duyệt mới nhất. Sử dụng  các mã định dạng  trực  tiếp  trong HTML  tốn hao nhiều  thời gian thiết  kế  cũng như  dung  lượng  lưu  trữ  trên  đĩa  cứng.  Trong  khi  đó CSS  đưa  ra phương thức “tờ mẫu ngoại” giúp áp dụng một khuôn mẫu chuẩn từ một file CSS ở ngoài. Nó thật sự có hiệu quả đồng bộ khi bạn tạo một website có hàng trăm trang hay  cả  khi  bạn muốn  thay  đổi một  thuộc  tính  trình bày nào đó. Hãy  thử  tưởng tượng bạn có một website với hàng trăm trang và bạn muốn thay đổi font chữ hay màu chữ cho một thành phần nào đó. Đó thật sự sẽ là một công việc buồn chán và tốn nhiều  thời gian. Nhưng với việc  sử dụng CSS việc đó  là hoàn  toàn đơn giản cũng như là bạn có một trò ma thuật nào đó.

Ngoài ra, CSS còn cho phép bạn áp đặt những kiểu trình bày thích hợp hơn cho các phương tiện khác nhau như màn hình máy tính, máy in, điện thoại,… CSS được cập nhật liên tục mang lại các trình bày phức tạp và tinh vi hơn.

1.3.  Học CSS cần những gì?

Thật  sự không  có một điều kiện gì được quy định khi học CSS. Nhưng ở một khía cạnh nào đó  thì một sự chuẩn bị cho một cuộc hành  trình dù  là dễ nhất vẫn không thừa vì ít nhất nó sẽ giúp bạn làm tốt hơn.

  • Hành  trang  thứ nhất mà bạn nên có  là một kiến  thức về HTML, nó không thật sự cần thiết nếu bạn chỉ dùng CSS để trình bày cho một  trang HTML có sẵn (như  làm skin cho blog chẳng hạn), nhưng bạn vẫn cần biết ý nghĩa một số thẻ HTML, nó sẽ có ích khi bạn viết CSS. Tuy nhiên, nếu bạn muốn tự thiết kế, trình bày một trang web của riêng mình thì tùy theo quy mô trang web, bạn cần phải học thêm cả HTML, XHMTL, Javascript và một số ngôn ngữ lập trình web khác.
  • Hành trang  thứ hai chính  là một  trình soạn  thảo văn bản để bạn có  thể viết mã CSS. Ở đây, Pearl khuyên bạn nên sử dụng một trình soạn thảo đơn giản như Notepad, Wordpad trong Windows hay Pico trong Linux, Simple Text trong Mac. Nó sẽ giúp bạn chắc là code là của bạn và không có bất kỳ một sự can thiệt nào từ chương trình như khi dùng DreamWeaver, FrontPage, Golive,…
  • Hành trang thứ ba của bạn chính lả một phiên bản mới nhất của trình duyệt mà bạn thường dùng.

Và một điều nữa mà mình muốn đề nghị đó là các bạn hãy dành một ít thời gian để thực hành CSS sau mỗi bài học nó sẽ  thật sự có  ích cho bạn. Thực hành chẳng những  giúp bạn  vận dụng  nhuần  nhuyễn  các bài học mà  còn  có  tác dụng giải thích ngược lại những lý thuyết mà bạn chưa hiểu.

Bây giờ nếu bạn đã  thật sự chuẩn bị chúng  ta hãy chuyển qua chương  tiếp theo để thật sự bước chân vào thế giới CSS.

Bài viết của link2caro – Cộng Đồng WordPress Việt Nam

Tìm hiểu về công nghệ HTML 5 và CSS 3

Cascading Style Sheets, hay còn gọi tắt là CSS, là những file hỗ trợ cho trình duyệt Web trong việc hiển thị một trang HTML. Về cơ bản, các trang HTML như bộ xương – khuôn khổ cơ bản – của một trang web – trong khi các file CSS sẽ cụ thể hóa các thành phần của một trang nên được hiển thị như thế nào. CSS cho phép bạn kiểm soát phông chữ, màu chữ, kiểu nền…, của một trang HTML.

CSS làm cho việc thiết kế và xây dựng một trang Web trở nên dễ dàng hơn. Trước khi có CSS, bạn phải sử dụng HTML để thực hiện tất cả các tiêu đề cũng như các thành phần của một trang Web. Mặc dù đã có một số cách khác nhưng HTML vẫn thường xuyên được sử dụng và các nhà thiết kế Web sẽ phải thay đổi từng thành phần riêng lẻ trên mỗi trang. CSS đã giúp cho việc thay đổi phong cách của một trang Web đơn giản hơn và đỡ tốn thời gian hơn, bạn có thể thực hiện sự thay đổi trên một mục nào đó và sau đó apply sự thay đổi này trên toàn bộ trang Web thay vì phải thực hiện trên từng mục riêng lẻ như trước đây. Khác...

Cấu trúc và sức mạnh của CSS

 

Vậy là chúng ta đã có một trải nghiệm mới về CSS thông qua cách mà CSS điều khiển và cung cấp các thuộc tính cho một đối tượng trên website (đối tượng có thể là một đoạn văn bản, hình ảnh hay dòng kẻ, thậm chí là từng ký tự).

Cấu trúc của CSS rất đơn giản, bao gồm 3 thành phần chính là Đối tượng – Thuộc tính – Giá trị.
#abc { padding-top: 10px; }

Trong ví dụ trên ta có thể thấy đối tượng đặt tên là abc và được ép cho cách mép trên 10px.

Ngoài ra các bạn còn thấy dấu “#” đứng trước tiên, đó là quy định của CSS để hiểu đối tượng abc được markup trên file X(HTML) là một ID, có nghĩa là trên toàn bộ trang web thì đối tượng abc là duy nhất. Sở dĩ tôi phải nói thêm về ID để các bạn không bị lầm tưởng giữa IDCLASS (2 cái này khác nhau hoàn toàn nhé).

Đến đây các bạn đã có thể thấy rằng CSS thật là đơn giản và dễ hiểu. Nhưng theo tôi sức mạnh thực sự của CSS là nằm ở tính kế thừa. Có nghĩa là bạn có thể gán thuộc tính CSS cho rất nhiều các đối tượng trên website của bạn mà không phải viết lại. Hay như những đối tượng con nằm bên trong 1 đối tượng cha bao bọc nó thì mặc nhiên là nó được thừa hưởng toàn bộ thuộc tính CSS mà ta đã gán cho đối tượng cha

Chẳng hạn như đoạn CSS dưới đấy

body {   background: #CCCCCC;   font-family: "Trebuchet MS", Verdana; }

Ta có thể thấy rằng CSS gán thuộc tính cho toàn bộ phần body. Tất cả phần BODY sẽ có màu nền là màu #CCCCCC và font chữ là “Trebuchet MS”, Verdana. Mà ta không cần phải khai báo thêm gì cho các đối tượng nằm trong thẻ BODY

Tương tự như vậy ta có thể thử với một số đối tượng với đoạn CSS sau:

h1 { font-family: Georgia, sans-serif; }
p { font-family: Tahoma, serif; }

Ngoài ra với CSS ta có thể viết gộp cho một số đối tượng.

h1, h2, h3, h4, h5, h6 {   color: #009900;   font-family: Georgia, sans-serif; }

Ta có thể chú thích từng đoạn CSS để người xem dễ hiểu.

/* Chèn đoạn chú thích ở đây */

Nguồn: Graphiclancer

 

Cấu hình MSSQL chạy port 1433 trong Windows 2008 R2

Sau khi cài đặt thành công ta tiến hành mở port 1433 bằng cách tạo một file .bal có nội dung như bên dưới và chạy nó 

@echo =========  SQL Server Ports  ===================
@echo Enabling SQLServer default instance port 1433
netsh firewall set portopening TCP 1433 "SQLServer" 
@echo Enabling Dedicated Admin Connection port 1434
netsh firewall set portopening TCP 1434 "SQL Admin Connection" 
@echo Enabling conventional SQL Server Service Broker port 4022  
netsh firewall set portopening TCP 4022 "SQL Service Broker" 
@echo Enabling Transact-SQL Debugger/RPC port 135 
netsh firewall set portopening TCP 135 "SQL Debugger/RPC" 
@echo =========  Analysis Services Ports  ==============
@echo Enabling SSAS Default Instance port 2383
netsh firewall set portopening TCP 2383 "Analysis Services" 
@echo Enabling SQL Server Browser Service port 2382
netsh firewall set portopening TCP 2382 "SQL Browser" 
@echo =========  Misc Applications  ==============
@echo Enabling HTTP port 80 
netsh firewall set portopening TCP 80 "HTTP" 
@echo Enabling SSL port 443
netsh firewall set portopening TCP 443 "SSL" 
@echo Enabling port for SQL Server Browser Service's 'Browse' Button
netsh firewall set portopening UDP 1434 "SQL Browser" 
@echo Allowing multicast broadcast response on UDP (Browser Service Enumerations OK)
netsh firewall set multicastbroadcastresponse ENABLE

Bước tiếp theo là add file sqlservr.exe vào tường lửa bằng cách vào Run gõ firewall.cpl 

Nhấn vào Allow programs to communicate through Windows Firewall

Nhấn Allow another program chọn đường dẫn đến thư mục vài Mssql chọn sqlservr.exe tui cài để mặc định nên như vầy 

SQL 2008 C:\Program Files\Microsoft SQL Server\MSSQL10_50.MSSQLSERVER\MSSQL\Binn\sqlservr.exe

SQL 2005 C:\Program Files\Microsoft SQL Server\MSSQL.1\MSSQL\Binn\sqlservr.exe

Vậy là bạn đã có thể chạy sql trên port 1433 rồi đó

 

Cấu hình G6FTP Server trong Windows 2008 R2

Sau khi cài đặt thành công G6FTP Server ta tiến hành mở port 21 bằng cách vào Run CMD

Nhập lệnh sau 

netsh advfirewall firewall add rule name="FTP - In (no SSL)" action=allow protocol=TCP dir=in localport=21

 

Kích hoạt G6FTP Server cho phép chạy trên win 2008

Mở Control Panel -- System and Security -- System/

Nhấn /Advanced system settings/

Chọn /Advanced/ nhấn /Settings/ under /Performance/

Chọn /Data Execution Prevention/ 

Add /G6FTPServer.exe/ 

Bước tiếp theo là add file G6FTPServer.exe vào tường lửa bằng cách vào Run firewall.cpl 

Nhấn vào Allow programs to communicate through Windows Firewall

Nhấn Allow another program chọn đường dẫn đến thư mục vài G6FTP Server chọn G6FTPServer.exe tui cài để mặc định nên như vầy 

C:\Program Files (x86)\Gene6 FTP Server\G6FTPServer.exe

Vậy là đã cấu hình xong rồi đấy ta kiểm tra thành quả nhé