SQL server Sử Dụng Mệnh Đề OUTPUT Trong Các Lệnh DML

Mệnh đề OUTPUT bắt đầu được đưa ra từ SQL Server 2005 trong các lệnh DELETE, INSERT, UPDATE, để trả về các bản ghi bị ảnh hưởng hoặc lưu vào một bảng khác. Tính năng này rất hữu dụng khi bạn muốn lưu lại, chẳng hạn với lệnh DELETE, các bản ghi cần xóa sang một nơi khác để có thể tra cứu về sau.

Ví dụ bạn có bảng KhachHang chứa các khách hàng hiện tại, và KhachHangLuu chứa các thông tin cũ của khách hàng mỗi khi có sửa đổi:

CREATE TABLE dbo.KhachHang(
KhachHang_ID INT IDENTITY PRIMARY KEY,
Ten NVARCHAR(100),
Email VARCHAR(100)
)

CREATE TABLE dbo.KhachHangLuu(
KhachHang_ID INT,
Ten NVARCHAR(50),
Email VARCHAR(100)
)
GO
INSERT INTO dbo.KhachHang VALUES(N'Ý Lan','ylan@ylan.com')
INSERT INTO dbo.KhachHang VALUES(N'Tuấn Ngọc','tuanngoc@tuanngoc.com')
INSERT INTO dbo.KhachHang VALUES(N'Thái Hiền','thaihien@thaihien.com')
INSERT INTO dbo.KhachHang VALUES(N'Ngọc Hạ','ngocha@ngocha.com')

SELECT * FROM dbo.KhachHang

-- xóa KhachHang_ID = 4 (Ngọc Hạ)
DELETE dbo.KhachHang
OUTPUT DELETED.* INTO dbo.KhachHangLuu
WHERE KhachHang_ID = 4

-- cập nhật email của KhachHang_ID = 3
UPDATE dbo.KhachHang
OUTPUT DELETED.* INTO dbo.KhachHangLuu
SET Email = N'me@thaihien.com'
WHERE KhachHang_ID = 3

SELECT * FROM dbo.KhachHangLuu
Như vậy là bạn luôn có bản lưu chứa thông tin cũ của khách hàng trên bảng KhachHangLuu mỗi khi có sửa đổi trên bảng chính. Với SQL Server 2000 bạn phải thực hiện điều trên bằng hai lệnh, INSERT vào bảng lưu rồi thực hiện DELETE/UPDATE trên bảng chính, và để đảm bảo tính toàn vẹn bạn phải đưa hai lệnh vào một transaction. Với mệnh đề OUTPUT chỉ có một lệnh được thực hiện, và bản thân nó là một transaction nên bạn khỏi cần bận tâm về điều đó.

Một ứng dụng khác của mệnh đề OUTPUT là bạn có thể dùng nó để lấy về giá trị IDENTITY vừa được INSERT vào bảng:
INSERT INTO dbo.KhachHang
OUTPUT INSERTED.KhachHang_ID
VALUES(N'Elvis Phương','phuong@ElvisPhuong.com')

KhachHang_ID
------------
5
Trong bài Về Cột IDENTITY có một chi tiết bàn về phương pháp lấy về giá trị IDENTITY vừa được tạo, và dùng mệnh đề OUTPUT như trên đây bổ sung thêm một cách làm rất an toàn cho việc này.


Phiên bản áp dụng: SQL Server 2005 trở lên

Về Cột IDENTITY

1. Cột IDENTITY dùng để tạo một dãy số liên tục tăng cho mỗi bản ghi được INSERT, nó rất thích hợp khi bạn cần có một cột mà mỗi lần INSERT giá trị của nó được tự động tăng lên cao hơn các giá trị trước đó, trong khi bạn không quan tâm nhiều lắm đến bản thân các giá trị trong cột này. Trong rất nhiều trường hợp, cột IDENTITY cũng được dùng luôn làm khóa chính cho bảng.

Bạn khai báo thuộc tính IDENTITY cho cột như sau:

--Tạo bảng
CREATE TABLE dbo.Tblxxx(
ID_Col INT IDENTITY(1,1),
Col1 INT,
Col2 VARCHAR(50)...
)
--Thêm cột vào bảng
ALTER TABLE dbo.Tblyyy ADD ID_Col INT IDENTITY(1,1)

2. Cú pháp tổng quát của IDENTITY là:

IDENTITY(seed, increment)

 

trong đó seed là giá trị khởi tạo và increment là giá trị tăng cho mỗi lần. Khi không chỉ định seed và increment thì các giá trị mặc định của chúng được dùng là seed = 1 và increment = 1.

Ví dụ:

--giá trị khởi đầu = 1 và mỗi lần tăng 1
CREATE TABLE dbo.Tblxxx(
ID_Col INT IDENTITY...
)

--giá trị khởi đầu = 1000 và mỗi lần tăng 5
CREATE TABLE dbo.Tblxxx(
ID_Col INT IDENTITY(1000,5)...
)

-- giá trị khởi đầu = -100 và mỗi lần giảm 2
CREATE TABLE dbo.Tblxxx(
ID_Col INT IDENTITY(-100,-2)...
)

Lưu ý là chuỗi giá trị có thể giảm dần (increment < 0) như ở ví dụ trên, nhưng tôi thấy điều này ít có giá trị thực tế và thậm chí còn dễ gây nhầm lẫn. Do đó trong bài này tôi luôn giả định là chuỗi luôn tăng.

3. Bạn không thể thay đổi một cột có sẵn để nó trở thành cột IDENTITY, hoặc bỏ thuộc tính IDENTITY của nó. Khi bạn edit bảng trong Management Studio và sửa một cột thành IDENTITY hoặc ngược lại, ở phía sau thực ra SQL Server xóa bảng và tạo một bảng mới.

4. SQL Server không duy trì tính liên tục của dãy số IDENTITY, khi bạn DELETE bản ghi thì khoảng trống sẽ xuất hiện. Ở lần INSERT sau đó một giá trị mới sẽ được dùng, thay vì giá trị bị xóa được dùng lại.

5. Bản thân thuộc tính IDENTITY không đảm bảo các giá trị trong cột là duy nhất. Ví dụ, bạn có đặt lại seed với một giá trị tùy ý (kể cả giá trị đã được dùng trước đó). Khi cần đảm bảo tính duy nhất, bạn cần thêm ràng buộc khóa chính hoặc khóa duy nhất cho cột.

6. Để khởi tạo lại giá trị seed, bạn dùng lệnh DBCC CHECKIDENT

7. Khi cần INSERT vào bảng, bạn có thể bỏ qua cột IDENTITY trong danh sách các cột, và giá trị của cột IDENTITY sẽ được tự động sinh ra (đó là mục đích chính khi tạo cột này)

CREATE TABLE dbo.MyTable(
ID_Col INT IDENTITY,
Col_1 INT,
Col_2 VARCHAR(50)
)
GO
INSERT INTO dbo.MyTable(Col_1,Col_2) VALUES(15,'abc')
INSERT INTO dbo.MyTable(Col_1,Col_2) VALUES(62,'def')
INSERT INTO dbo.MyTable(Col_1,Col_2) VALUES(37,'ghi')

Khi bạn muốn ghi đè lên giá trị tự sinh của cột IDENTITY, bạn phải đưa cột này vào danh sách các cột đồng thời trước đó phải đặt lại lựa chọn IDENTITY_INSERT là ON (mặc định là OFF)

SET IDENTITY_INSERT dbo.MyTable ON
INSERT INTO dbo.MyTable(ID_Col,Col_1,Col_2) VALUES(100,42,'jkl')

Một tình huống thường xảy ra là bạn INSERT vào bảng từ một bảng khác có cùng cấu trúc. Một cách lười biếng bạn có thể viết thế này:

INSERT INTO dbo.Table1 SELECT * FROM dbo.Table2

Khi bảng dbo.Table1 không có cột IDENTITY, câu lệnh trên thực hiện không có gì trở ngại. Nhưng nếu bảng dbo.Table1 có chứa cột IDENTITY, bạn sẽ nhận được thông báo lỗi sau:

An explicit value for the identity column in table 'dbo.Table1' can only be specified when a column list is used and IDENTITY_INSERT is ON.

Như vậy theo nội dung của thông báo lỗi, để thực hiện được câu lệnh INSERT trên bạn cần thực hiện hai việc: đặt IDENTITY_INSERT là ON cho bảng dbo.Table1, và liệt kê ra các cột:

 

SET IDENTITY_INSERT dbo.Table1 ON
INSERT INTO dbo.Table1(ID_Col, Col_1,...)
SELECT ID_Col, Col_1,...
FROM dbo.Table2

8. Một bảng chỉ được phép có tối đa một cột IDENTITY. Bạn có thể tìm ra cột nào là IDENTITY bằng cách edit bảng trong Management Studio, hoặc bằng cách truy vấn view hệ thống SYS.IDENTITY_COLUMNS:

SELECT *
FROM SYS.IDENTITY_COLUMNS
WHERE OBJECT_ID = OBJECT_ID('dbo.Tblxxx')

9. Để lấy giá trị IDENTITY cuối cùng vừa được INSERT, bạn dùng hàm SCOPE_IDENTITY(), gọi hàm này ở ngay dưới câu lệnh INSERT.

INSERT INTO dbo.Tblxxx(Col_1,Col_2) VALUES(15,'abc')
SELECT SCOPE_IDENTITY()

 

Ngoài ra còn một vài hàm khác có cùng mục đích, nhưng khi đi vào chi tiết chúng có những khác biệt đáng kể. Trong phần lớn trường hợp, SCOPE_IDENTITY() là hàm an toàn nhất tránh được những rắc rối không cần thiết. Bạn có thể xem một bài so sánh về các hàm này tại đây.

10. Với các tính năng như trên, cột IDENTITY sẽ gây ra khó khăn trong một số trường hợp. Nếu bạn muốn duy trì tính liên tục của dãy số (ví dụ, dùng lại các giá trị bị xóa trước đó), bạn phải tự thực hiện việc kiểm tra này trước mỗi lần INSERT. Việc xử lý cũng phức tạp hơn khi bảng nằm trong một replication với nhiều publisher cùng update dữ liệu về một subscriber. Đặc biệt với replication hai chiều (hai database update qua lại cho nhau) thì nó hoàn toàn bó tay. Lý do là vì giá trị IDENTITY kế tiếp chỉ được lưu cục bộ ở mỗi database, bảng này không biết giá trị kế tiếp của bảng ở bên database kia là bao nhiêu, cho nên khi replication xảy ra thì các giá trị INSERT vào mỗi bảng sẽ bị xung đột với nhau.

Trên Diễn đàn tin học có một thảo luận chi tiết hơn về các hạn chế của IDENTITY và các phương pháp thay thế (cũng như ưu/nhược điểm của các phương pháp này), tại đây.

 

Đặt Lại Giá Trị Của Trường IDENTITY

Khi bạn TRUNCATE bảng, trường IDENTITY sẽ được reset trở về giá trị ban đầu (khi tạo bảng). Tuy nhiên có những trường hợp bạn không thể dùng TRUNCATE (xem thêm bài DELETE và TRUNCATE). Ví dụ bạn muốn đặt lại giá trị của trường IDENTITY trong bảng dbo.TableName về 1, bạn có thể dùng lệnh này:

DBCC CHECKIDENT ('dbo.TableName', RESEED, 1)

SQL server Lưu Ý Khi Viết Câu Lệnh Dùng NOT IN

Khi bạn viết câu lệnh dùng “NOT IN”, bạn có thể sẽ gặp những tình huống không mong đợi, nếu dữ liệu có chứa giá trị NULL.

Ví dụ:

CREATE TABLE dbo.DienThoai(ID INT PRIMARY KEY, NhaSX NVARCHAR(50), 
Model VARCHAR(50), TenCSH NVARCHAR(80) )
GO
INSERT INTO dbo.DienThoai
SELECT 1, 'Apple', 'Iphone 4', N'Hồ Ngọc Hà' UNION ALL
SELECT 2, 'Vertu', 'Signature', N'Quang Dũng' UNION ALL
SELECT 3, 'Samsung','S9402 Ego', N'Mỹ Tâm' UNION ALL
SELECT 4, 'HTC',NULL, N'Mỹ Tâm' -- không có model

 

Bạn có một CSDL theo dõi các loại điện thoại di động sở hữu bởi các celebrity (biết đâu ý tưởng này lại kiếm ra tiền, hehe). Giả sử bạn lưu trữ nhà sản xuất (NhaSX), model, và tên của chủ sở hữu (TenCSH); model có thể không được biết (như bản ghi #4 ở trên). Trước khi có thể kiếm được tiền, bạn cần giải quyết mấy tình huống sau:

Tình huống 1. Tìm ra các chủ nhân có model không phải là “Iphone 4″ và “Signature”, bạn viết câu lệnh thế này:

SELECT ID, TenCSH
FROM dbo.DienThoai
WHERE Model NOT IN ('Iphone 4','Signature')

ID TenCSH
---------------
3 S9402 Ego

Bạn hy vọng câu lệnh trả về các bản ghi #3 và #4, nhưng thực tế nó chỉ trả về #3. Lý do là vì bản ghi #4 có Model = NULL, làm cho hệ thống không xác định được chân lý của biểu thức logic "Model NOT IN ('Iphone 4','Signature' )". Nói cách khác nó không đánh giá được biểu thức đúng hay sai; trong khi đó yêu cầu của câu lệnh là trả về bản ghi nếu biểu thức đúng.

Để khắc phục lỗi trên bạn có thể thêm "OR Model IS NULL" vào mệnh đề WHERE của câu lệnh, hoặc dùng hàm ISNULL với Model để gán cho nó một giá trị không NULL:

SELECT ID, TenCSH
FROM dbo.DienThoai
WHERE Model NOT IN ('Iphone 4','Signature') OR Model IS NULL

-- hoặc
SELECT ID, TenCSH
FROM dbo.DienThoai
WHERE ISNULL(Model,'-') NOT IN ('Iphone 4','Signature')

Tình huống 2. Tìm ra các chủ nhân có model không nằm trong số các model sở hữu bởi Mỹ Tâm:

SELECT ID, TenCSH
FROM dbo.DienThoai
WHERE Model NOT IN (SELECT Model FROM dbo.DienThoai
                          WHERE TenCSH = N'Mỹ Tâm')

ID TenCSH
------------------
(0 row(s) affected)

Theo suy luận thông thường, bạn mong đợi câu lệnh trả về các bản ghi #1 và #2. Tuy nhiên hoàn toàn ngược lại nó không trả về bản ghi nào. Vì sao vậy? Câu lệnh con ở trên trả về hai model là ”S9402 Ego” và NULL, do đó câu lệnh chính tương đương với:

SELECT ID, TenCSH
FROM dbo.DienThoai
WHERE Model NOT IN ('S9402 Ego',NULL)
Áp dụng luật DeMorgan ta có thể biến đổi biểu thức ở mệnh đề WHERE như sau:
Model NOT IN ('S9402 Ego',NULL)
tương đương với:
NOT [Model IN ('S9402 Ego',NULL)]
tương đương với:
NOT [(Model = 'S9402 Ego') OR (Model = NULL)]
tương đương với:
(Model != 'S9402 Ego') AND (Model != NULL)
Biểu thức cuối cùng ở trên muốn đúng đòi hỏi cả hai biểu thức con phải đúng, trong khi (Model != NULL) thì không kết luận được. Vì thế mà cả biểu thức trên luôn luôn không xác định được (và do đó không thể gọi là đúng).

Để khắc phục bạn cũng có thể làm theo hai cách, thêm điều kiện “AND Model IS NOT NULL” vào mệnh đề WHERE của câu lệnh con, hoặc viết lại cả câu lệnh dùng “NOT EXISTS”:
SELECT ID, TenCSH
FROM dbo.DienThoai
WHERE Model NOT IN (SELECT Model FROM dbo.DienThoai
                    WHERE TenCSH = N'Mỹ Tâm' AND Model IS NOT NULL)
--hoặc
SELECT ID, TenCSH
FROM dbo.DienThoai D1
WHERE NOT EXISTS(SELECT 1 FROM dbo.DienThoai D2
                 WHERE D2.TenCSH = N'Mỹ Tâm'
                 AND D2.Model = D1.Model)

Index Giúp Tăng Hiệu Năng Thực Hiện Như Thế Nào

Index là phương tiện rất mạnh để tăng hiệu năng thực hiện của câu lệnh. Bài post này sẽ cung cấp một ví dụ cho bạn thấy bên trong SQL Server sử dụng index để  tăng hiệu năng như thế nào. Ở đây tôi dùng database AdventureWork là database mẫu đi kèm với SQL Server (bạn có thể dowload database này về và cài vào nếu chưa có sẵn).

Trước hết ta hãy dùng bảng Sale.Customer để tạo ra hai bảng mới là Sale.Customer_noIndex và Sale.Customer_Index, đồng thời tạo 1 index trên trường CustomerID cho bảng Sale.Customer_Index:

SELECT *
INTO Sales.Customer_NoIndex
FROM Sales.Customer

SELECT *
INTO Sales.Customer_Index
FROM Sales.Customer
GO
CREATE INDEX Idx_Customer_Index_CustomerID ON Sales.Customer_Index(CustomerID)
Nay ta có hai câu lệnh SELECT sau để truy vấn hai bảng:

-- #1
SELECT CustomerID, CustomerType
FROM Sales.Customer_NoIndex
WHERE CustomerID = 11001
-- #2
SELECT CustomerID, CustomerType
FROM Sales.Customer_Index
WHERE CustomerID = 11001

Hai câu lệnh này sẽ cho cùng kết quả, khác biệt duy nhất là câu lệnh thứ hai truy vấn bảng Sales.Customer_Index có index trên trường cần tìm (CustomerID). Ta sẽ xem hai câu lệnh trên được thực hiện như thế nào bằng cách nhìn vào kế hoạch thực thi (execution plan) của chúng. Khi bắt đầu thực hiện một câu lệnh, SQL Server lên một kế hoạch gồm các bước sẽ tiến hành để thực thi câu lệnh đó, gọi là kế hoạch thực thi.Trên hàng công cụ bạn hãy bấm vào nút “Include Actual Execution Plan”. Khi đó, mỗi lần bạn chạy câu lệnh hệ thống sẽ vừa thực hiện câu lệnh vừa đồng thời trả lại kế hoạch thực thi mà nó đã dùng để thực hiện câu lệnh đó.

 

Bạn hãy bôi đen câu lệnh thứ nhất và thực hiện nó, ở tab “Execution plan” hiện ra kế hoạch thực thi như thế này:

Như vậy ta thấy hệ thống sẽ thực thi câu lệnh bằng cách duyệt qua cả bảng (table scan) và tìm ra các bản ghi thỏa mãn yêu cầu tìm kiếm. Thao tác duyệt bảng có nghĩa là hệ thống cần phải đọc tuần tự từng bản ghi từ đầu đến cuối để tìm ra kết quả. Trong trường hợp này, nó phải đọc toàn bộ 19 185 bản ghi và tìm ra bản ghi có CustomerID=11011. Đây là một thao tác rất chậm vì nó phải xử lý tất cả các bản ghi trong bảng. Nên nhớ hệ thống sẽ không dừng lại khi nó tìm được bản ghi đầu tiên có CustomerID=11011, vì nó không biết liệu còn bản ghi nào khác có giá trị CustomerID tương tự hay không, cho nên để chắc chắn trả lại kết quả đầy đủ hệ thống vẫn phải tiếp tục đọc các bản ghi còn lại. Ta có thể nhận xét thấy chi phí của thao tác duyệt bảng tăng tuyến tính cùng với số lượng bản ghi trong bảng (độ phức tạp là O(n)).

Giờ ta hãy thực hiện câu lệnh thứ hai, lần này kế hoạch thực thi sẽ như sau:

Lần này ta không thấy thao tác table scan nữa, mà thay vào đó là index seek và RID lookup. Index seek là khi hệ thống có thể nhảy đến được node trên cây index chứa khóa thỏa mãn yêu cầu tìm kiếm. Index là một cấu trúc dữ liệu có dạng B-tree, nên nó rất thích hợp với các thao tác tìm kiếm theo kiểu key=value, chỉ cần vài phép so sánh là hệ thống định vị được node chứa khóa cần tìm. Node này chứa khóa (trường được index, ở đây là giá trị của CustomerID) và RID là ID của bản ghi tương ứng trong bảng (đây là giá trị nội bộ chỉ dùng bên trong hệ thống, ta không truy cập được giá trị này). Vì thế bước tiếp theo là dùng RID này để nhảy đến bản ghi tương ứng trong bảng (RID lookup) để lấy các trường dữ liệu cần thiết. Với index seek, độ phức tạp giảm xuống thành O(logn), một bước tiến vượt bậc so với table scan.

Ta có thể so sánh chi phí của hai câu lệnh trên bằng cách thực hiện cả hai cùng nhau:

Ta thấy câu lệnh thứ nhất chiếm tới 95% tổng chi phí, trong khi câu lệnh thứ hai chỉ chiếm có 5%. Nói cách khác, index trên trường CustomerID đã giúp cho câu lệnh thực hiện nhanh lên đến 19 lần. Index đã giúp cho lượng dữ liệu hệ thống cần xử lý để tìm ra kết quả giảm xuống đến mức tối thiểu, và điều đó đã tạo ra bước nhảy về tốc độ. Từ đây ta rút ra một bài học quan trọng: Các trường thường được dùng trong mệnh đề WHERE là các ứng cử viên đầu tiên cần được tạo index.